Tuesday, January 30, 2007

TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH CÓ GÌ ĐỂ HỌC?

Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh có gì để học?

Nguyễn Văn Đài, luật sư từ Hà Nội

www.nguyenvandai.blogspot.com

Ngày nay những gì được gọi là tư tưởng của Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng lý luận, và là chỗ dựa tinh thần cũng như để che đậy sự cai trị độc đoán, chuyên quyền của đảng cộng sản Việt Nam. Gần đây bộ chính trị cộng sản đã ra chỉ thị 06-CT/TW để yêu cầu toàn dân học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp theo ngày 16-1-2007 ra quyết định số 35-QĐ/TW thành ban chỉ đạo trung ương cuộc vân động toàn dân học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Vậy Hồ Chí Minh có tư tưởng gì mà những người cộng sản phải tiêu tốn nhiều tiền của của nhân dân để nghiên cứu rồi bắt học sinh, sinh viên, nay là là toàn dân học tập. Sau khi tôi đã đọc quyển giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh do nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành tháng 8 năm 2006 và đọc một số cuốn sách viết về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi chỉ thấy trong con người của Hồ Chí Minh có hai nhận thức quan trọng nhất và mang tính nền tảng trong cả cuộc đời hoạt động chính trị của ông, nhưng trong suốt 60 năm qua đảng cộng sản Việt Nam đã cố tình quên lãng, không áp dụng trong đường lối của họ. Hai nhận thức quan trọng đó là: Nhận thức về tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Đại cách mạng Pháp, Nhận thức thứ hai đó là về tư tưởng dân chủ, về giá trị quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Hồ Chí Minh không có những tư tưởng của riêng mình, mà ông chỉ tiếp thu và làm theo tư tưởng của những người đi trước như Mác, Lê Nin, Mao.

Nhận thức về tư tưởng dân chủ của cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ đã được Hồ Chí Minh thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập được đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam năm 1946.

Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cộng hoà Pháp năm 1789, điều này cho thấy Hồ Chí Minh mong muốn xác lập vững chắc những nguyên tắc bảo vệ quyền cá nhân con người trước quyền lực, khẳng định các quyền tự nhiên không thể bị tước đoạt của mỗi người. Hồ Chí Minh còn mong muốn xây dựng nhà nước dựa trên nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân và có nghĩa là: “Để đảm bảo cho các quyền này, con người thiết lập ra các chính phủ và chính sức mạnh của các chính phủ này là xuất phát từ sự ưng thuận của nhân dân. Và khi một hình thức chính phủ nào đó trở nên đối nghịch với các mục đích trên thì nhân dân có quyền thay đổi, hay phế bỏ chính phủ đó, và thiết lập nên một chính phủ mới, dựa trên nền tảng những nguyên tắc như vậy và tổ chức các quyền lực của mình theo hình thức nào đó để cho các quyền lực ấy có khả năng đảm bảo an ninh và hạnh phúc cho họ nhiều nhất.”

Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946, thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng xã hội Việt Nam trên nền tảng dân chủ, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Hiến pháp năm 1946 xây dựng trên ba nguyên tắc:

“ - Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.

- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.

- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân và do nhân quyết định”.

Hiến pháp 1946 khẳng định ngay trong điều đầu tiên là: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.”

Điều đó có nghĩa mọi người dân Việt Nam đều có quyền tham gia chính trị thông qua các đảng phái chính trị mà họ là thành viên hoặc với tư cách độc lập. Và việc đảng phái chính trị nào lãnh đạo đất nước phải do toàn dân lựa chọn và quyết định thông qua cuộc bầu cử tự do dân chủ.

Tóm lại trong cả cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh, ông ấy đã tiếp thu hai tư tưởng về nhân quyền và dân chủ có giá trị kinh điển từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cộng Hoà Pháp năm 1789 để áp dụng vào việc xây dựng đất nước Việt Nam dân chủ với thể chế chính trị đa đảng, tôn trọng phẩm giá của con người tức là tôn trọng những quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm và thiêng liêng của mỗi con người. Và xây dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân. Đáng tiếc, đảng cộng sản Việt Nam sau khi nắm được quyền lực, họ đã thực hiện nền chuyên chính của mình, thực hiện chế độ độc đảng cầm quyền, hạn chế và tước bỏ đi những quyền căn bản nhất con người như: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài, tự do biểu tình….

Nay, để duy trì sự lãnh đạo độc đảng của minh, đảng cộng sản Việt Nam kêu gọi, vận động toàn dân học tập đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh, điều nay không thực tế, bởi chính đảng viên đảng cộng sản phải là những người phải học, và phải thấm nhuần những giá trị về dân chủ và nhân quyền mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu và để lại cho họ. Khi mà ngày nay vấn đề nhân quyền đã mang ý nghĩa toàn cầu và tôn trọng nhân quyền đã trở thành hòn đá thử vàng và là biểu tượng của công lý trong công việc đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia. Chỉ khi công lý được thực thi thì đảng cộng sản mới có thể tồn tại được, còn không thì sẽ tự huỷ diệt chính bản thân họ. Hồ Chí Minh đã có một câu nói khá nổi tiếng đó là: “ Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập chẳng có nghĩa gì”(Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự thật 1984, Tập 4, tr 35)

Những tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu mà nay đảng cộng sản Việt Nam phải thực thi ngay đó là: Tôn trọng tuyệt đối tất cả các quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm của nhân dân Việt Nam. Từ bỏ chế độ độc đảng cộng sản lãnh đạo, chấp nhận xây dựng chế độ dân chủ đa đảng. Cùng với đại diện của các đảng phái, tổ chức chính trị, đại diện các tôn giáo, các tổ chức chính trị xã hội thành Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp và tiến hành soạn thảo Hiến pháp mới, luật bầu cử mới, tiến hành trưng cầu dân ý và bầu cử tự do, dân chủ có sự giám sát của cộng đồng quốc tế.

Hà nội, ngày 31-1-2007

Tuesday, January 16, 2007

Thư độc giả gửi luật sư Nguyễn Văn Đài

Tại sao tôi tin Chúa Jesus Christ


Tôi đã có thời gian làm việc tại CHDC Đức(cũ) từ tháng 11 năm 1989 đến tháng 10 năm 1990. Tháng 7 năm 1990, khi việc đi lại giữa Đông và Tây Đức trở nên dễ dàng, thì có rất nhiều đoàn giáo sĩ Tin lành của người Việt từ các nước đã tới những thành phố khác nhau của Đông Đức để truyền giáo. Có một nhóm thanh niên Tin lành đã đến chung cư nơi chúng tôi đang sinh sống, hàng ngày họ đi phát những quyển sách nhỏ nói về Chúa Jesus, phòng tôi có 4 anh em cũng nhận được những cuốn sách đó. Nhưng lúc đó chúng tôi chuẩn bị phải trở về Việt Nam vì nhà máy nơi chúng tôi làm việc đã phá sản, do vậy chúng tôi phải vất vả buôn bán để tranh thủ kiếm thêm chút tiền trước khi về nước, nên tôi và các bạn không có thời gian đọc những cuốn sách đó. Một ngày trước khi về Việt Nam, chúng tôi tranh thủ đi mua quà lưu niệm, tôi tìm mãi nhưng không tìm được món quà mà mình ưa thích, cuối cùng tôi nhìn thấy cây thập tự giá, mặc dù lúc đó tôi không hiểu ý nghĩa của nó, nhưng khi nhìn thấy thì tôi cảm thấy rất thích, và tôi đã quyết định mua làm kỷ niệm cho mình. Tôi đeo cây thập tự bằng vàng vào cổ và trở về căn phòng của mình chuẩn bị hành lý cho chuyến trờ về quê hương. Trong khi chuẩn bị hành lý, thì tôi thấy cuốn sách nói về Chúa Jesus, tôi đọc lướt qua và khi đó tôi mới hiểu một chút ý nghĩa của cây thập tự giá, tôi cảm thấy việc tôi chọn món quà kỷ niệm đầy ý nghĩa. Khi trở về đến Việt Nam, tôi vào trường đại học luật, việc học hành đã cuốn hút tâm trí của tôi, nên tôi không còn nghĩ về ý nghĩa của cây thập tự giá đó nữa. Gia đình tôi theo đạo Phật, nên sau khi ra trường, hàng tháng vào ngày 1 và 15 tôi đều đi lễ Chùa Quán Sứ để cầu mong mọi điều tốt đẹp đến với mình. Nhưng suốt nhiều năm tháng tôi chưa bao giờ được cảm thấy bình an trong cuộc sống cũng như trong công việc của mình.
Đầu năm 2000, chị Nguyễn Thị Thuý là quản nhiệm một Hội thánh Ngũ tuần ở thành phố Việt Trì bị công an bắt và toà án thành phố xử sơ thẩm với mức án 1 năm tù vì tội cống người thi hành công vụ. Một nhóm tín đồ người nước ngoài ở Hà Nội khi cầu nguyện, thì họ thấy Chúa nhắc nhở họ phải giúp đỡ cho chị Thuý để thuê luật sư ở phiên toà phúc thẩm. Và họ đã đóng góp để giúp đỡ gia đình chị. Nhưng gia đình chị Thuý đi tìm nhiều nơi mà không thuê được luật sư, một hôm người nhà chị Thuý tìm đến Văn phòng của luật sư Châu ở phố Tràng Thi, chị Châu không nhận vụ này nhưng hứa sẽ tìm giúp luật sư, và chị mở danh sách luật sư học cùng với chị, cuối cùng chị tìm đúng tên của tôi và gọi điện thoại cho tôi, chị nói có một vụ án nhạy cảm, em có thể nhận lời bào chữa không? Tôi nói với chị là cần phải xem hồ sơ trước khi quyết định, chiều đó tôi tới nhà chị, khi đọc hồ sơ chi có 3 trang giấy của bản án sơ thẩm, tôi hết sức bất bình vì chính quyền địa phương đã vi phạm quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, quyền tư do tín ngưỡng, tôn giáo và họ còn bắt và xử tù một người đang thực hiện quyền công dân của mình. Tôi nhận lời làm luật sư cho chị. Trong thời gian nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị cho phiê toà phúc thẩm, tôi đã gặp rất nhiều tín đồ Tin lành và nghe họ làm chứng về Chúa Jesus và thập tự giá. Và có một giáo sĩ nước ngoài đã đến thăm tôi tại nhà, ông nói với tôi là không quen biết chị Thuý, nhưng là cùng đức tin, khi nghe chị Thuý bị bắt bớ và tôi đã nhận làm luật sư cho chị thì ông rất mừng và không quản ngại xa xôi, ông đã đến Việt Nam để gặp tôi. Ông nói hàng triệu tín đồ khắp nơi trên thế giới ngày đêm đang cầu nguyền cho chi Thuý và cho tôi. Khi nghe tới đó, tôi rất cảm động và nghi lại câu chuyện 10 năm trước tôi đã chọn mua cây thập tự giá làm quà kỷ niệm cho chính mình. Sau đó ít bữa một người bạn đã mời tôi đến dự lễ truyền giảng tại Nhà thờ Tin lành số 2 Ngõ Trạm, và hôm đó cả hai vợ chồng tôi cùng tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa của chúng tôi.(còn tiếp)

Tính chất pháp lý của chỉ thị 06-CT/TW của bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam

Hà nội, ngày 12-1-2007

Sau ngày 30-4-1975, đảng cộng sản được sự soi dẫn của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đưa đất nước của chúng ta đến cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài 10 năm, nhân dân đói khổ lầm than, hàng triệu người phải vượt biển đi tìm tự do và hạnh phúc ở những vùng đất khác nhau trên thế giới. Mấy chục triệu người không đi được phải ở lại để tiếp tục theo sự lãnh đạo của đảng. Năm 1986, đảng cộng sản kiên định lấy chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho việc đổi mới về kinh tế. Hai mươi năm đổi mới kinh tế, nhờ nỗ lực của cả dân tộc Việt Nam cần cù chịu khó, nhờ tư bản nước ngoài mang tiền của vào đầu tư, nhờ đồng bào hải ngoại ngày đêm lao động vất vả để gửi tiền về nên kinh tế có khởi sắc, người dân bớt đói nghèo, nhưng so với những nước trong khu vực thì chúng ta vẫn lạc hậu và bị tụt hậu, có lẽ chẳng bao giờ đuổi kịp được họ. Quan chức cộng sản đã hình thành nên một giai tầng mới trong xã hội, phần lớn trong số họ không còn xuất thân từ tầng lớp công nhân, nông dân nữa, mà họ xuất thân từ tầng con cháu của những những người cộng sản thế hệ trước. Họ vẫn tiếp học tập, nghiên cứu và áp dụng chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng họ càng học tập, càng kêu gào sống và học tập theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thì lối sống đạo đức của họ càng tha hoá, tệ nạn tham nhũng đã trở thành quốc nạn, quan chức cộng sản tham nhũng đã trở thành giặc nội xâm và là kẻ thù của cả dân tộc Việt Nam. Giờ đây không biết được mấy phần trăm quan chức cộng sản dám hiên ngang tuyên bố rằng họ không tham nhũng tài sản của nhân dân? ai trong số họ dám công khai tài sản cho nhân dân giám sát? Khi mà lòng tin của nhân dân vào chính quyền cộng sản ngày càng giảm sút nghiêm trọng, trước nguy cơ bị nhân dân phế truất quyền lãnh đạo. Bộ chính trị đảng cộng sản đã vội vã ra chỉ thị số 06-CT/TW “yêu cầu toàn dân học tập để nhận thức về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chúng ta cùng xem xét tính chất pháp lý của chỉ thị này:

Trong hiến pháp và cả hệ thống pháp luật của Việt Nam không có văn bản pháp luật nào qui định về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan có tên là “bộ chính trị”. Tại Điều 1 Luật ban hành các văn bản qui phạm pháp luật năm 1996 qui định về hệ thống văn bản qui phạm pháp luật và các cơ quan được phép ban hành văn bản qui phạm pháp luật, các văn bản của bộ chính trị - đảng cộng sản không được qui định tại Điều này. Như vậy các văn bản do bộ chính trị của đảng cộng sản ban hành là không có cơ sở pháp lý. Duy nhất tại Điều 4 Hiến pháp 1992 có nói đến đảng cộng sản, nhưng trong Điều 4 chỉ qui định đảng cộng sản theo chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh chứ không qui định cả dân tộc Việt Nam phải theo chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời trong Điều 4 còn qui định mọi tổ chức của đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.

Điều 79 Hiến pháp qui định: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo hiến pháp, pháp luật…” Do đó công dân Việt Nam chỉ có nghĩa vụ tuân theo hiến pháp và pháp luật, chứ không có nghĩa vụ tuân theo chỉ thị của các tổ chức, đảng phái chính trị.

Việc bộ chính trị đảng cộng sản ra chỉ thị 06-CT/TW để bắt buộc mọi người dân phải tuân theo là vi hiến. Chỉ thị 06-CT/TW chỉ có giá trị trong nội bộ của đảng cộng sản, không có giá trị pháp lý để áp dụng bắt toàn dân Việt Nam phải tuân theo.

Nguyễn Văn Đài, luật sư từ Hà Nội.

Quan điểm về CPC

Sau nhiều năm chính phủ cộng sản Việt Nam đàn áp tôn giáo một cách khốc liệt, đặc biệt đối với những người theo đạo Tin lành là người sắc tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây nguyên, các giáo hội Tin lành tư gia tại các thành phố và các tỉnh đồng bằng. Thậm chí chính phủ đã ra những văn bản mật để hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương phải tìm cách xoá bỏ đạo Tin lành(Chỉ thị 184). Tháng 9-2004, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam và danh sách các nước được quan tâm đặc biệt do đàn áp tôn giáo(CPC). Trong suốt hai năm qua, chính phủ Hoa Kỳ đã nỗ lực để đàm phán với cộng sản Việt Nam về tự do tôn giáo, trong khi đó những người theo đạo Tin lành là người H’Mông ở các tỉnh miền núi phía bắc vẫn bị đàn áp, ép bỏ đạo, thậm trí máu của họ vẫn còn rơi, thương tật vì bị đánh đập vẫn mang trên mình. Tháng 6 và tháng 7 năm 2006, máu của nhiều tín đồ Tin lành thuộc hệ phái Phúc âm toàn vẹn tại tỉnh Thanh Hoá vẫn còn rơi vì niềm tin của họ. Hầu hết các tín đồ thuộc các hệ phái tin lành tư gia ở các tỉnh phía Bắc đều gặp rất nhiều khó khăn khi họ xin xác nhận của chính quyền địa phương vào lý lịch để đi xin việc, xin cấp chứng minh thư, xin cấp hộ chiếu, nhiều nơi chính quyền từ chối không cấp vì lý do theo đạo.

Cho đến thời điểm gần diễn ra hội nghị cấp cao APEC tại Hà Nội, các tín đồ người H’Mông mới thực sự không bị đàn áp, nhưng còn một số Hội thánh Tin lành tư gia tại Thanh Hoá vẫn gặp khó khăn và cản trở của chính quyền trong việc họ nhóm lại.

Hiện tại có khoảng hơn 4000 Hội thánh Tin lành tư gia thuộc hơn 50 hệ phái khác nhau, nhưng chính phủ cộng sản Việt Nam mới chỉ công nhận đăng ký chưa tới 10 Hội thánh. Và có trên 400 Hội thánh Tin lành của người H’Mông tham gia đăng ký, nhưng chính quyền mới công nhận được khoảng 30 Hội thánh.

Mặc dù chính phủ cộng sản Việt Nam đã có những tiến bộ khi giảm thiểu việc đàn áp, và sách nhiễu các giáo hội Tin lành tư gia, nhưng điều đó chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của những người theo đạo. Sự tiến bộ đó không phải đến từ cái gọi là: “bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN” và thực tâm của chính phủ cộng sản Việt Nam. Cộng sản Việt Nam nới lỏng việc kiểm soát tôn giáo do áp lực ngoại giao của Hoa Kỳ nhằm được Bộ ngoại giao Hoa Kỳ rút ra khỏi danh sách CPC, và được Quốc hội Hoa Kỳ bỏ phiếu thông qua PNTR cho Việt Nam.

Ngày 13-11-2006, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, đây là thành công của cộng sản Việt Nam và những nỗ lực ngoại giao của chính phủ Hoa Kỳ. Cộng sản Việt Nam chưa thể đáp ứng các tiêu chuẩn về tự do tôn giáo của Hoa Kỳ cũng như chuẩn mực quốc tế, việc Bộ ngoại giao Hoa Kỳ rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC mang tính chất miễn cưỡng, và chiếu cố cho cộng sản Việt Nam, một món quả nhỏ mà bà Ngoại trưởng cũng như Tổng thống Hoa Kỳ muốn tặng cho cộng sản Việt Nam trong chuyến thăm chính thức Việt Nam cũng như tham dự hội nghị APEC diễn ra tại Hà Nội.

Một câu hỏi lớn đặt ra là: “Sau khi cộng sản Việt Nam tổ chức thành công hội nghị APEC, đạt được PNTR, trở thành thành viên chính của WTO, chính sách đối với tôn giáo nói chung và các giáo hội Tin lành nói riêng sẽ như thế nào?” trong khi mà đường lối chính sách tuyên truyền của cộng sản Việt Nam vẫn coi đạo Tin lành là của Mỹ, là đạo phản động, và việc phát triển đạo Tin lành nằm trong chiến lược được cộng sản gọi là: “Diễn biến hoà bình nhằm thay đổi chế độ cộng sản” do “các thế lực thù địch” đang thực hiện. Cộng sản Việt Nam mong muốn dựa vào Hoa Kỳ để làm ăn kinh tế, nhằm duy trì quyền lực lãnh đạo của mình, nhưng mặt khác cộng sản Việt Nam vẫn coi Hoa Kỳ là mối đe doạ trực tiếp cho quyền lực của họ khi mà chính phủ Hoa Kỳ luôn luôn có những đòi hỏi về dân chủ, nhân quyền với cộng sản Việt Nam. Cộng sản Việt Nam và chính phủ Hoa Kỳ vẫn còn nhiều vấn đề cần phải đàm phán và giải quyết về tự do tôn giáo nói riêng và dân chủ, nhân quyền nói chung. Nhưng điều mà tất cả mọi người mong muốn lại là việc cộng sản Việt Nam phải thực tâm nhìn nhận vấn đề tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền là đòi hỏi thực sự của toàn thể nhân dân Việt Nam, mà họ phải tôn trọng và đáp ứng chứ không phải là việc họ đi đàm phán với Hoa Kỳ để mang tự do, dân chủ và nhân quyền về cho nhân dân Việt Nam.

Nguyễn Văn Đài, luật sư

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2006.

Dân trí và chế độ dân chủ ở Việt Nam

Hà nội, ngày 1-6-2006

Trong bài viết trước của tôi về công dân Việt Nam có quyền tự do thành lập đảng, đã nhận được những ý kiến đóng góp tích cực từ nhiều phía, và trong đó chủ yếu là những ý kiến ủng hộ đa đảng hay phản đối việc đa đảng.

Những ý kiến phản đối việc đa đảng thì cho rằng do trình độ dân trí còn thấp, người dân chưa đủ khả năng và hiểu biết về một xã hội dân chủ nên việc đa đảng sẽ gây ra nhiều bất ổn trong xã hội.

Trong bài viết này tôi sẽ đưa ra những minh chứng cho việc người dân Việt Nam hoàn toàn có đủ tri thức và khả năng để tiếp thu và xây dựng một Nhà nước dân chủ, đa đảng.

Trước hết, chúng ta hãy ngược dòng lịch sử của dân tộc về những thập niên đầu tiên của thế kỷ 20. Lúc đó dưới sự áp bức, cai trị của chủ nghĩa thực dân, nhu cầu đánh đuổi thực dân, giải phóng dân tộc để dành độc lập đã lan rộng trong nhân dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức.

Truyền thống đa dạng

Những phong trào yêu nước của cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh tuy không giành được thắng lợi cuối cùng, nhưng nó là một tác nhân cho phong trào thành lập các chính đảng sau này.

Năm 1930 đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập tại Trung Quốc, cuối thập niên 30 và sang đầu thập niên 40, một loạt các chính đảng được thành lập ở Việt Nam như: Quốc Dân Đảng, Đại Việt, đảng Dân Chủ, đảng Xã Hội, … Tất cả chúng ta ai cũng biết là lúc đó cuộc sống người dân Việt Nam nghèo nàn và lạc hậu, trên 80% dân số mù chữ và cả dân tộc đang bị cai trị một cách hà khắc của chủ nghĩa thực dân. Nhưng với tấm lòng yêu nước, tinh thần giải phóng dân tộc, một loạt các đảng phái chính trị đã ra đời để đấu tranh cho mục tiêu dành độc lập dân tộc.

Và đến năm 1945, Chính phủ và Quốc hội đa đảng đã được thành lập ở Việt Nam. Ở miền Bắc sau năm 1954 và trên cả nước sau năm 1975 cho đến năm 1988, tuy vẫn còn giữ cơ chế Chính phủ và Quốc hội đa đảng, nhưng việc cạnh tranh dân chủ giữa các đảng đã không còn nữa. Tuy nhiên, ở miền Nam việc bầu cử tự do và cạnh tranh dân chủ giữa các đảng phái vào Chính phủ và Quốc hội vẫn được duy trì cho đến trước 30-4-1975.

Chúng ta có thể thấy rằng trong thế kỷ trước người dân Việt Nam đã từng làm quen và xây dựng chế độ dân chủ đa đảng, mặc dù lúc đó dân trí thấp, lạc hậu, mù chữ, thông tin bị giới hạn.

Sau 30-4-1975, khoảng 2 triệu người Việt Nam đã di cư đến các quốc gia phát triển, với thể chế chính trị dân chủ, đa đảng. Nhưng chỉ sau một thời gian rất ngắn, cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã hòa nhập rất nhanh vào nền văn hóa, kinh tế và chính trị của nước sở tại. Đại đa số đã thành đạt về kinh tế, và nhiều người đã thành đạt về chính trị, nắm giữ những vị trí quan trọng trong chính quyền.

Trong thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước, có hàng trăm nghìn lao động và sinh viên Việt Nam làm việc và học tập ở Liên Xô cũ và các nước Cộng sản đông Âu. Sau khi những nước trên chuyển sang chế độ dân chủ, đa đảng, thì cộng đồng người Việt ở đó cũng đã hòa nhập nhanh chóng vào nền chính trị dân chủ mà họ không hề bỡ ngỡ hay gặp khó khăn gì. Và hiện nay đang có hàng trăm nghìn lao động Việt Nam đang sống và làm việc rất bình thường ở những nước dân chủ, đa đảng như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Đài Loan.

Qua những minh chứng ở trên, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng nhân dân Việt Nam có đủ tri thức, kinh nghiệm, khả năng và tinh thần yêu nước để xây dựng một chế độ dân chủ, đa đảng.

Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi cuộc chiến chống lại sự nghèo nàn, lạc hậu, nạn tham nhũng và sự thoái về đạo đức đang quyết định đến vận mệnh của cả dân tộc, hoặc là chúng ta sẽ vươn lên để đuổi kịp các nước phát triển, hoặc là chúng ta sẽ mãi mãi tụt hậu, và làm thuê cho họ.

Khi đảng Cộng sản đã tỏ ra bất lực và không có khả năng trong cuộc chiến đó thì sự ra đời của các đảng phái chính trị sẽ phát huy sức mạnh của cả dân tộc để xây dựng một Nhà nước dân chủ, từ đó sẽ là tiền đề cho đất nước Việt Nam phát triển và cất cánh đuổi kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/05/060523_dantri_danchu.shtml

Trả lời phỏng vấn đài Tiếng nước tôi

Anh Hoàng Hà: Kính thưa Luật sư, như chúng tôi vừa giới thiệu , chúng ta đang ở những ngày đầu của năm mới dương lịch 2007. Trong năm 2006 vừa qua có khá nhiều biến cố đáng chú ý đối với cả đảng cộng sản Việt Nam lẫn các lực lượng đấu tranh cho dân chủ. Trong buổi hội luận này, với tư cách là một nhà trí thức đấu tranh, xin mời luật sư cho thính giả biết những nhận định của luật sư về các biến cố đáng chú ý. Trước hết là về phía đảng cộng sản Việt Nam. Năm 2006 vừa qua là năm đánh dấu 20 năm chính sách đổi mới. Đương nhiên là đảng cộng sản Việt Nam đã có những tổng kết đầy mầu hồng cho thành tích 20 năm đổi mới của họ, vì ngay cả tổng kết 10 năm thực hiện khẩu hiệu "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa" chấm dứt vào năm 1986 thê thảm như vậy, mà cũng đã trưng ra đầy dẫy những thành tích. Thưa luật sư câu hỏi đặt ra là, sau 20 năm đồi mới đảng cộng sản có thực sự thành công trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa mà họ vẫn hô hào và theo đuổi đến nay hay không? Trước hết là về mặt ý thức hệ và tư tưởng , vì đây là 2 lãnh vực vẫn được đảng cộng sản coi là chỉ đạo cho các hành động khác.

Luật sư Nguyễn Văn Đài:

Thưa quí thính giả, theo đánh giá của cá nhân tôi thì sau hai mươi năm đổi mới về kinh tế thì nền kinh tế Việt Nam ngày càng xa rời con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội và thực tế là nền kinh tế Việt Nam ngày càng tiến gần, tiến nhanh và tiến vững chắc theo chủ nghĩa tư bản, đặc biệt sẽ nhanh hơn sau khi Việt Nam trở thành viên chính thức của WTO. Hiện nay tỷ trọng về kinh tế ngày càng nghiêng về các nhà tư bản trong nước và các nhà tư bản ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam. Theo nhận định của tôi thì trong vòng từ 5 tới 7 năm nữa tư bản trong nước và tư bản ngoại quốc sẽ chiếm tỷ trọng áp đảo trong nền kinh tế Việt Nam.

Còn về mặt ý thức hệ và tư tưởng của những người cộng sản, tôi cho rằng bản chất trong con người cộng sản đã thay đổi, ngày nay ý thức hệ và tư tưởng cộng sản chỉ còn trong các viện nghiên cứu, trong các cuộc họp chi bộ, mỗi kỳ đại hội đảng. Trong đối nội họ mang ý thức hệ và tư tưởng cộng sản ra để buộc học sinh, sinh viên phải học, nhằm thống trị về tư tưởng, kéo dài sự cai trị độc đảng của họ, nhưng cuộc cách mạng về công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão, xoá đi khoảng cách giữa các quốc gia, tầng lớp học sinh, sinh viên và trí thức có điều kiện để tiếp cận với thông tin từ thế giới bên ngoài, cho nên việc áp đạt ý thức hệ và tư tưởng cộng sản không còn ý nghĩa như trước đây, và nay nó đã mất tác dụng. Mặt khác họ dùng chiêu bài xây dựng CNXH để loè bịp nhân dân. Trong quan hệ đối ngoại có hai loại: Thứ nhất bất kỳ quốc gia nào mà ủng hộ sự cai trị độc đảng của họ thì là bạn; Thứ hai những quốc gia nào ủng hộ họ trong chuyện buôn bán làm ăn kinh tế thì là đối tác. Cộng sản Việt nam không còn đặt vấn đề ý thức hệ và tư tưởng cộng sản trong quan hệ đối ngoại. Những người gia nhập vào đảng cộng sản ngày nay phần lớn là mang tính cơ hội, họ mong muốn có được địa vị, để được thăng quan tiến chức, làm giàu qua việc mua bán chức quyền, tham nhũng. Tôi đã hỏi nhiều đảng viên trẻ tuổi về lý tưởng cộng sản của họ là gì? họ không trả lời được. Như vậy cả về kinh tế và ý thức hệ thì cộng sản Việt Nam ngày càng thất bại.

Anh Hoàng Hà:

Về mặt kinh tế, không ai phủ nhận được là sau 20 năm đổi mới, sau khi chính sách ngăn sông cấm chợ, một chính sách đặc trưng của xã hội chủ nghĩa bị bãi bỏ, người dân có cơ hội để làm ăn kiếm sống thoải mái hơn, thì bộ mặt xã hội VN đã có nhiêu thay đổi. Nhưng theo LS thì những thay đổi đó thực sự mang ý nghĩa gì, khi mà trước năm 1975, những nước trong vùng cũng chỉ có trình độ phát tiển tương đương, hoặc hơn kém chút ít so với với miền nam VN. Nay họ bỏ xa ta hàng chục năm. Đặc biệt là Singgapore, vào thập niện 60, họ chưa hình thành là 1 quốc gia, đất đai thì còn là vùng hoang giả, mà nay ta phải mất 197 năm mới theo kịp họ của ngày hôm nay . Như vậy, ý nghĩa thực sự của 20 năm đổi mới là gì khi mà dân tộc càng ngày càng bị tụt hậu?

Luật sư Đài: So với nền kinh tế Việt Nam của thời điểm năm 1986 và sau 20 năm thì nền kinh tế của Việt Nam có phát triển, nhưng so với những nền kinh tế trong khu vực có cùng xuất phát điểm cộng nguồn lực về con người và tài nguyên thiên nhiên thì nền kinh tế Việt Nam bị tụt hậu nghiêm trọng. Ý nghĩa thực sự của 20 năm đổi mới là làm cho những người cộng sản có chức quyền, con cháu và người thân của họ ngày càng giàu có, trở thành những ông chủ, còn người dân Việt Nam, đất nước, dân tộc ngày càng tụt hậu, tài nguyên thiên nhiên bị huỷ hoại, ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, đạo đức xã hội bị suy thoái, các thế con cháu tương lai của nước Việt ngày càng suy yếu do môi trường, lương thực, thực phẩm, rau quả bị ô nhiễm và không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh.

Anh Hoàng Hà: Vẫn về vấn đề đổi mới, đảng cộng sản luôn luôn tự hào là đã có công phát khởi và lãnh đạo thành công công cuộc đổi mới. Thế nhưng trước khi đổi mới 20 năm, tức là năm 1966, ở Thái Bình người dân đã tự động đổi mới, đem lại những thành quả lạc quan, thì cuộc đổi mới đó đã bị đảng nghiền nát, và sau này ở miền Nam, những hiện tượng làm ăn xé rào của ngưòi dân miền Nam , vốn đã quen với nền kinh tế thị trường trước năm 1975, cũng đã bị đảng trù dập nặng tay.Như vậy, theo LS thì đảng cộng sản VN có thực sự là người khởi phát và lãnh đạo công cuộc đổi mới hay không?

Trong suốt chiều dài lịch sử Việt nam, dân tộc Việt Nam luôn cần cù chịu khó, đồng thời cũng rất năng động sáng tạo trong xây dựng và phát triển kinh tế, nhưng chỉ vì sự cai trị sai lầm của chế độ đương thời vào lúc đó mà đất nước và dân tộc chúng luôn luôn tụt hậu và phải đuổi theo các nước khác. Vào thời điểm năm 1986, sau 10 năm khủng hoảng kinh tế trầm trọng, nếu không từ bỏ kiểu kinh tế tập chung quan liêu bao cấp, chắc chắn nền kinh tế Việt Nam sẽ sụp đổ, chế độ cộng sản cũng khó mà tồn tại được. Do vậy việc đổi mới nền kinh tế vào năm 1986 là đòi hỏi của thực tiễn lúc bấy giờ, và cũng là đòi của nhân dân Việt Nam buộc đảng cộng sản phải có nghĩa vụ chấp hành. Đáng lẽ ra đảng cộng sản phải cảm ơn nhân dân Việt nam thì mới đúng, không có dân tộc nào trên thế giới có thể chấp nhận sự lãnh đạo sai lầm của một chính đảng trong nhiều thập kỷ như vậy.

Còn những thành tựu kinh tế đạt được phải do nỗ lực chung của cả dân tộc, nếu đất nước Việt Nam có dân chủ thực sự cùng với sự đổi mới về kinh tế thì chắc chắn nền kinh tế Việt nam đã vượt xa hơn ngày hôm nay rất nhiều.

Tại sao đảng cộng sản không đặt câu hỏi là nếu không có họ cùng với sự sai lầm của họ trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế của Việt Nam thì đất nước, dân tộc Việt nam sẽ ra sao? Nhiều người có cùng quan điểm với tôi là không có họ thì Việt Nam đã có thể trở thành cường quốc của châu Á, và trên thế giới rồi.

Anh Hoàng Hà: Sau 20 năm đổi mới, đảng cộng sản VN đã có đại hội 10 vào tháng tư năm 2006 với thành phần nhân sự trẻ trung hơn. Xin LS cho thính giả biết nhận định của LS về thành phần lãnh đạo mới này và những chính sách của họ. Đây là nhận định quan trọng, vì thành phần lãnh đạo và chính sách này sẽ có ảnh hưởng toàn bộ trên các vấn đề của đất nước trong những năm trước mặt.

Luật sư Đài: Những người lãnh đạo được coi là trẻ hiện nay của chính phủ cộng sản Việt Nam thì họ đã từng làm cấp phó, hoặc gắn bó với thế hệ lãnh đạo trước trong rất nhiều năm, có người đến 10 năm, nhưng nếu xem những thành tích của họ trong quá khứ thì không có gì nổi trội, nếu không muốn nói là có nhiều sai lầm và thất bại. Cộng sản Việt nam thực hiện nguyên tắc lãnh đạo tập thể và cùng chịu trách nhiệm, cho nên một vài các nhân dù có xuất sắc thì cũng không thể vượt qua được thể chế do họ tạo ra. Vấn đề mấu chốt là phải thay đổi hệ thống chính trị hiện nay, chấp nhận có đa nguyên, đa đảng có sự cạnh tranh lành mạnh trong sinh hoạt chính trị thì lúc đó mới nói đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế cũng như sự ổn định chính trị.

Anh Hoàng Hà: Bây giờ sang đến các lực lượng đấu tranh cho dân chủ. Thưa LS, năm 2006 cũng là năm có những chuyển biến vô cùng to lớn của phòng trào đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam mà trong 50 năm trước đó, hay ngay cả trong những năm đầu của thế kỷ 21 không ai có thể nghĩ là nó có thể xẩy ra. Xin LS cho thính giả của đài biết nhận định của LS về những thành tựu, khó khăn của phong trào đầu tranh cho dân chủ, đặc biệt là sự ra đời của những thực thể đấu tranh như khối 8406, các tờ báo độc lập như tờ tự do ngôn luận, tự do dân chủ, Tổ Quốc và sau đó là sự hình thành của Liên Minh Dân chủ Nhân QuyềnVN và các đảng phái chính trị như đảng Thăn TiếnVN, các tổ chức độc lập như công đoàn, v.v.v.....

Luật sư Đài: Trong năm 2006 là thời khắc lịch sử vàng son cho sự ra đời của các tổ chức, đảng phái chính trị, tổ chức bảo vệ nhân quyền và những tờ báo độc lập ở trong nước. Mặc dù dưới sự cai trị hà khắc của đảng cộng sản, nhưng những người đấu tranh DC trong nước đã bất chấp những nguy hiểm về sinh mạng chính trị của mình và gia đình để thành lập lên các tổ chức chính trị dân chủ và báo chí độc lập. Đó là những thành tựu vượt bực trong suốt hơn 30 năm dưới sự cai trị của đảng cộng sản trên cả nước Việt Nam mà phong trào DC chưa bao giờ có được. Nhưng những khăn trước mắt còn nhiều, do đảng cộng sản ko chịu ngồi yên cho PTDC hoạt động và phát triển, họ đã và đang ra sức chống phá, gây khó khăn cho những người đấu tranh DC và người thân của họ. Nhưng với lương tâm, trách nhiệm với tổ quốc và dân tộc, cộng với sự can đảm và sẵn sàng hy sinh những quyền lợi cá nhân của mình, những người đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền hoàn toàn tin tưởng vào con đường chính nghĩa mà mình đã lựa chọn. Chắc chắn toàn thể đồng bào Viêt Nam ở trong nước và hải ngoại sẽ ủng hộ, dân chủ hoá Việt Nam sẽ thành công.

Anh Hoàng Hà: Xin LS cho các nhận định của mình lần lượt theo thứ tự thời gian về sự ra đời của các thực thể đấu tranh vừa kể. trước hết là khối 8406.

- Các tờ báo độc lập;

- Sự xuất hiện của các đảng phái chính trị (như đảng Thăng Tiến Việt Nam;

- Liên Minh dân chủ và nhân quyền VN; …

Luật sư Đài: Trước đòi hỏi phải tập hợp những người đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong nước, ngày 8-4-2006 Tuyên TDDC cho VN được công bố trước nhân dân Việt Nam và thế giới, từ đó Khối 8406 được hình thành. Để đáp ứng nhu cầu về đấu tranh tư tưởng và cung cấp thông tin chính xác, trung thực cho người dân trong và ngoài nước, do vậy báo Tự do ngôn luận được phát hành mà không cần sự cấp phép của chính quyền cộng sản. Đấu tranh chính trị thì phải có tổ chức, đảng phái chính trị, trước đòi hỏi của thực tiễn, ngày 1-6-2006 đảng Dân chủ VN phục hồi hoạt động và đổi tên thành đảng Dân chủ XXI. Đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng tăng của nhân dân, đặc biệt tại thủ đô Hà Nội, ngày 2-9 Tập san Tự do DC ra mắt bạn đọc trong và ngoài nước, tiếp đó ngày 8-9-2006 đảng Thăng Tiến công khai hoạt động, ngày 16-9-2006 Liên minh DCNQ VN ra đời tập hợp các tổ chức, đảng phái dân chủ phi công sản lại để tăng cường sự đoàn kết và sức mạnh đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền. Để bảo vệ quyền lợi của tầng công nhân và người lao động VN, ngày 20 tháng 10 Công đoàn độc lập ra đời và ngày 10-11-2006, Hội đoàn kết công Nông ra đời. Kết thúc năm 2006 là sự ra đời của Ủy ban NQVN vào ngày 10-12-2006. Sự ra đời của các tổ chức, đảng phái chính trị, các tổ chức bảo vệ nhân quyền trong năm 2006 là sự đòi hỏi của thực tiễn cách mạng dân chủ Việt Nam, điều này đáp ứng lòng mong đợi của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân trong nước, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đồng thời cũng đã nhận được sự ủng hộ to lớn của cộng đồng quốc tế, chính phủ các nước và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Những sự kiện đó là không thể đảo ngược, không có một bộ máy cường quyền nào có thể ngăn cản và dập tắt được.

Anh Hoàng Hà: Về phía đấu tranh có một sự kiện đáng chú ý nữa là trong năm vừa qua, hoà Thượng Thích Quảng Độ đã được trao giải nhân quyền Rafto, đây là ngưỡng cửa để đi đến giải Nbel hoà bình. LS nhận định thế nào về sự kiện này

Luật sư Đài: Đây là 1 sự kiện quan trọng cho phong trào dân chủ VN, nó cho thấy sự quan tâm, chú ý và ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với phong trào DCVN. Trong lúc PTDCVN còn non trẻ và yếu thì sự quan tâm, giúp đỡ và ủng hộ của cộng đồng quốc tế có ý nghĩa quan trọng thậm chí quyết định đến sự tồn tại và phát triển của phong trào. Việc HT Thích Quảng Độ được tặng giải thưởng Rafto đó là niềm vinh dự HT nói riêng và cả phong trào DCVN nói chung. Năm 2007, mà HT Thích Quảng Độ được giải thưởng Nobel thì đó là sự kiện trọng đại cho cá nhân Hoà Thượng Thích Quảng Độ và cả phong trào DCVN. Điều đó là nguồn cổ vũ lớn lao cho tất cả mọi người đang đấu tranh và cả những người còn đang lưỡng lự chưa gia nhập vào phong trào.

Anh Hoàng Hà: Chúng tôi vừa nhận được thư của Khối 8406 Thư Khối 8406 cảm ơn

Các Tổ chức, Cá nhân Quốc nội & Hải ngoại & Đẩy mạnh hơn Cao trào Tẩy chay Bầu cử độc đảng 2007. Là một thành viên của Khối 8406 và Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam, xin luật sư trình bày quan điểm của mình liên quan đến vấn đề này

Luật sư Đài: Việc kêu gọi tẩy chay bầu cử QH độc đảng đã có từ ngay sau khi Khối 8406 được hình thành, và gần đây thì Khối 8406 kêu gọi mạnh mẽ hơn cả trong quốc nội và hải ngoại. Trong khi đó có rất nhiều nhóm hoạt động dân chủ khác thì đang vận động để có nhiều người không phải cộng sản ra ứng cử. Việc ra ứng cử thì rễ, nhưng trúng cử thì là điều không thể, chính quyền cộng sản sẽ sử dụng nhiều biện pháp để loại các ứng cử viên độc lập vì tôi cũng đã từng tự ứng cử năm 1997 và đã bị loại từ vòng đầu tiên. Nhưng quan điểm của cá nhân tôi là nên ra ứng cử xem chính quyền cộng sản sẽ sử dụng thủ đoạn nào để loại các ứng cử viên độc lập, rồi sau đó sẽ tẩy chay hoặc tố cáo họ gian lận bầu cử như vậy cộng đồng quốc tế sẽ ủng hộ mạnh mẽ hơn.

Anh Hoàng Hà: Là một người từng bị ngăn cản không cho đi ra ngoại quốc, LS có nhận định thế nào về việc Giáo sư Nguyễn Chính Kết xuất ngoại vừa qua ?

Luật sư Đài: Giáo sư Nguyễn Chính Kết cũng đã tham khảo ý kiến của tôi trước khi xuất cảnh, còn việc thực hiện như thế nào hoàn toàn do giáo sư Kết quyết định. Trong hoàn cảnh hiện nay thì không thể có bất cứ một người đấu tranh DC nào có thể xuất cảnh ra nước ngoài được nữa, đặc biệt là sau sự việc của giáo sư Kết. Do vậy việc giáo sư Nguyễn Chính Kết đại diện cho LMDCNQ VN ra nước ngoài để vận động đồng bào hải ngoại, chính phủ các nước và tổ chức quốc tế ủng hộ cho Liên Minh là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa, cá nhân tôi ủng hộ việc làm của giáo sư Nguyễn Chính Kết.

Anh Hoàng Hà: Sau những nhận định về cả hai phía : đảng cộng sản VN và phong trào đầu tranh cho dân chủ tại VN mà LS vừa đưa ra, xin LS cho thính giả của đài biết nhãn quan của LS đối với tình hình đất nước trong năm 2007 ra sao.

Luật sư Đài: Trong năm 2007, các tổ chức, đảng phái chính trị, tổ chức bảo vệ nhân quyền ở trong nước sẽ phải di vào hoạt động thực chất trong việc xây dựng tổ chức, phát triển phong trào. Có rất nhiều tín hiệu khả quan cho sự phát triển của phong trào, chúng tôi có những kênh thăm dò dư luận xã hội khác nhau, và kết quả cho thấy sự ủng hộ của mọi từng lớp nhân dân với tiến trình dân chủ hoá đất nước là rất tích cực, ngày càng có nhiều bạn trẻ liên hệ với chúng tôi và gia nhập phong trào, trong đó có nhiều người đang làm việc trong chính quyền và bộ máy của đảng cộng sản. Chúng tôi hết sức lạc quan và tin tưởng vào sự phát triển của phong trào DC trong năm 2007.

Anh Hoàng Hà: Và sau cùng mời LS có một kết cho buổi thảo luận hôm nay trước khi chúng ta chào tạm biệt quý thính giả của đài

Luật sư Đài: Tôi chân thành cảm ơn anh Hoàng Hà và đài Tiếng nước tôi đã cho tôi cơ hội được tham gia chương trình ngày hôm nay, cảm ơn quí thính giả đã theo dõi câu chuyện của chúng tôi. Nhân dịp năm mới 2007 và Xuân Đinh Hợi đang đến gần, tôi xin kính chúc quí vị thính giả trong nước và đồng bào hải ngoại một năm mới sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt. Chúng tôi luôn mong muốn nhận được sự ủng hộ của đồng bào hải ngoại trong công cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền tại VN. Xin tạm biệt và gặp quí thính giả vào một dịp khác.